Việt Nam ở rất gần so với nhóm nước có tiềm năng phát triển 4.0

     Dù các chỉ số của Việt Nam còn rất khiêm tốn, song nếu nhìn nhận tổng hòa có thể thấy, Việt Nam ở rất gần so với nhóm có tiềm năng phát triển 4.0.

     Đó là thông tin được ông Đàm Bạch Dương – Vụ trưởng Vụ Công nghệ cao – Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) chia sẻ tại buổi họp báo thường kỳ quý I tổ chức chiều 10/4 tại Hà Nội.

     Trong một báo cáo mới đây về mức độ sẵn sàng cho nền sản xuất trong tương lai “Readiness for the Future of Production Report 2018” do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) mới công bố, trong tổng số 100 quốc gia được đánh giá, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia chưa sẵn sàng cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

     Phản hồi về thông tin này, ông Đàm Bạch Dương, Vụ trưởng Vụ Công nghệ cao, Bộ KH&CN thông tin rằng không thể lấy báo cáo của WEF làm thước đo chính xác cho việc Việt Nam đã sẵn sàng cho Cách mạng Công nghiệp 4.0 hay chưa và cần có cái nhìn chính xác hơn về vấn đề này.

     Theo ông Dương, WEF xây dựng báo cáo này dựa trên điều tra ở 100 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Báo cáo này được dựa trên hai nhóm chỉ số chính: Thứ nhất là nhóm về cấu trúc của sản xuất bao gồm 3 chỉ tiêu. Nhóm thứ 2 là bao gồm các yếu tố dẫn dắt sản xuất, nhóm này rất lớn gồm 59 chỉ tiêu. Trong nhóm 2 thì công nghệ đổi mới, sáng tạo chiếm 17 chỉ tiêu. Mỗi chỉ số sẽ được xếp hạng riêng nhưng cuối cùng điều quan trọng nhất là phải xem chỉ số tổng hòa là bao nhiêu.

     “Báo cáo này dựa trên nhiều chỉ số, tiêu chí riêng do WEF quyết định và không được coi là cơ sở để đánh giá một cách toàn diện”, ông Dương thông tin.

Việt Nam ở rất gần so với nhóm nước có tiềm năng phát triển 4.0 - ảnh 1Bộ KH&CN họp báo thường kỳ Quý I/2018
      Theo ông Đàm Bạch Dương, thẳng thắn nhìn nhận, dù các chỉ số của Việt Nam còn rất khiêm tốn, song “nếu theo dõi theo dạng biểu đồ với trục tung, trục hoành, có thể thấy, Việt Nam ở rất gần so với nhóm có tiềm năng phát triển 4.0.

     “Trong tổng số 62 nhóm chỉ tiêu thì mỗi nhóm chỉ tiêu có mức xếp hạng riêng. Nhưng nhìn trong chỉ số tổng hòa thì cấu trúc sản xuất Việt Nam xếp 48/100, chỉ tiêu dẫn dắt sản xuất Việt Nam xếp 53/100. Như vậy nếu nhìn chỉ số này không đến nỗi tệ. Nếu chiếu các con số này trên biểu đồ hình sin thì Việt Nam thuộc nước tiệm cận với nhóm quốc gia có tiềm năng trong giai đoạn tới”, ông Dương nói.

Cũng theo ông Dương, WEF xây dựng báo cáo này dựa theo một phương pháp đánh giá nhất định, thông thường thì người ta có nhiều phương pháp đánh giá. Mỗi phương pháp thường có một sai số nhất định. “Ở một số chỉ số đánh giá về Việt Nam trong báo cáo có sự chênh lệch so với thực tế do thời điểm làm báo cáo với thời điểm công bố cũng có sự không đồng nhất”, ông Dương cho biết.

Bổ sung thêm thông tin này ông Bùi Thế Duy – Chánh Văn phòng Bộ KH&CN, cho rằng về trình độ công nghệ có những đánh giá khác nhau, báo cáo này đánh giá sâu về sản xuất. Tuy nhiên cũng phải thừa nhận hiện năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt còn hạn chế. Theo đó trong các chỉ đạo tại Nghị quyết Trung ương 5 của Đảng về đổi mới mô hình tăng trưởng và Nghị quyết 27 của Chính phủ đều có định hướng là sẽ nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp.

 

Nguồn: vietq.vn

Quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước

Quyết định Số 19/2019/QĐ-UBND: Ban hành Quy định tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước tại tỉnh Phú Yên.

Quyết định Số 51/2018/QĐ-UBND: Sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều của Quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 62/2015/QĐ-UBND ngày 22/12/2015 của UBND tỉnh.

Phụ lục các biểu mẫu: (Ban hành kèm theo Quyết định số 51 /2018/QĐ-UBND ngày 31 tháng 11 năm 2018 của UBND tỉnh)

1. Phiếu đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh:

2. Phiếu nhận xét và đánh giá đề xuất đặt hàng:

3. Mẫu C0-TCTT: Kết quả tra cứu thông tin về các Đề tài, Dự án sản xuất thử nghiệm có liên quan đến đề xuất đặt hàng đã và đang thực hiện.

4. Mẫu C1-BBKP: Kiểm phiếu đánh giá đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh.

5. Mẫu C2-BBHĐ: Biên bản họp của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh;

6. Mẫu C3-KQĐG: Kết quả đánh giá đề xuất đặt hàng của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

7. Mẫu C4-TH: Tổng hợp kiến nghị của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ.