Việt Nam nên cân đối lại chính sách phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo

(Chinhphu.vn) – Đó là thông điệp chính của 2 báo cáo “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam” và “Đánh giá tác động của công nghệ đến tăng trưởng kinh tế” được công bố sáng 3/11.

Sự kiện công bố báo cáo do Bộ KH&CN Việt Nam phối hợp với Đại sứ quán Australia tại Việt Nam và Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức.

Bà Carolyn Turk, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam phát biểu tại lễ công bố các báo cáo về KHCN và đổi mới sáng tạo. Ảnh: VGP/Hoàng Giang

Tăng cường yếu tố bổ trợ quan trọng cho đổi mới sáng tạo

Báo cáo “Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam” là sản phẩm của chương trình hỗ trợ phân tích và tư vấn của WB về nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo Việt Nam.

Phân tích những điểm nghẽn cản trở doanh nghiệp đổi mới và đề xuất một nghị trình cải cách toàn diện để thúc đẩy tăng trưởng dẫn dắt bởi đổi mới sáng tạo, Báo cáo khuyến nghị Việt Nam nên tái cân đối chính sách phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo, chuyển từ tập trung đầu tư tạo ra công nghệ tiên tiến sang thúc đẩy hấp thụ và phổ biến công nghệ giữa nhóm các doanh nghiệp. Sự lan tỏa công nghệ – không chỉ là nghiên cứu và phát triển – có thể mang lại hiệu quả năng suất và chuyển đổi kinh tế đáng kể. Đây chính là điểm mà các can thiệp chính sách và hỗ trợ từ Chính phủ có thể mang lại lợi ích lớn nhất.

Đặc biệt, Việt Nam cần quan tâm xây dựng năng lực để tận dụng tối đa các công nghệ hiện đại nhất và đây nên là ưu tiên hàng đầu. Việc thu hẹp khoảng cách về kỹ năng của lực lượng lao động – cả chất lượng và số lượng – cũng sẽ rất quan trọng để khai thác toàn bộ sức mạnh của đổi mới sáng tạo.

Bà Carolyn Turk, Giám đốc WB tại Việt Nam nhận định Việt Nam sẽ cần những động lực mới cho tăng trưởng kinh tế để có thể đạt được tham vọng trở thành một nền kinh tế có thu nhập cao vào năm 2045 và đổi mới sáng tạo sẽ là nền tảng cơ bản trong việc nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng tăng trưởng. Tuy nhiên, có nhiều cách tiếp cận khác nhau để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và báo cáo này đưa ra những ý tưởng có thể phù hợp cho Việt Nam.

Bộ trưởng KH&CN Huỳnh Thành Đạt và Đại sứ Australia tại Việt Nam Robyn Mudie tham quan gian hàng của doanh nghiệp công nghệ cao tại lễ công bố các báo cáo. Ảnh: VGP/Hoàng Giang

Chìa khóa để Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững

Một báo cáo khác được công bố là Báo cáo “Đổi mới công nghệ ở Việt Nam: Đánh giá tác động của công nghệ đến tăng trưởng kinh tế” do CSIRO, cơ quan khoa học quốc gia Australia và các đơn vị thuộc Bộ KH&CN Việt Nam cùng thực hiện.

Bà Robyn Mudie, Đại sứ Australia tại Việt Nam cho biết Báo cáo này đã thu thập và phân tích dữ liệu trong giai đoạn gần 20 năm qua nhằm lượng hóa mức độ đóng góp của tiến bộ công nghệ vào tăng trưởng kinh tế.

Báo cáo cho rằng Việt Nam hiện đang bước vào giai đoạn phát triển kinh tế tiếp theo. Trong khi giai đoạn trước dựa trên phát triển thị trường và chuyển từ phụ thuộc vào sản lượng nông nghiệp sang sản xuất, giai đoạn tiếp theo sẽ cần tập trung vào năng suất.

Theo Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) do Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố, Việt Nam tăng 10 bậc trong hai năm 2018 và 2019, xếp thứ 67 trên thế giới. Các kết quả này minh họa những thành tựu đáng kể đã đạt được, tuy nhiên, sự phát triển kinh tế hơn nữa sẽ đòi hỏi phải tập trung nhiều hơn vào việc nâng cao năng suất lao động thông qua đổi mới và sáng tạo công nghệ.

Báo cáo đưa ra 5 khuyến nghị chính sách, đó là: Tăng cường đổi mới công nghệ giữa các doanh nghiệp; nâng cao hiệu suất kỹ thuật giữa các doanh nghiệp; thúc đẩy nghiên cứu – phát triển (R&D) và các ngành công nghiệp mới nổi để nâng cao đường biên công nghệ; phát triển nguồn nhân lực và phát triển các công cụ, chính sách và cơ chế thực hiện để điều phối tổng thể và tăng cường các nỗ lực phát triển công nghệ.

Theo bà Robyn Mudie, đổi mới và sáng tạo công nghệ là chìa khóa để Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững và đi tắt đón đầu trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Vai trò của người lãnh đạo cùng với thể chế mạnh sẽ là chìa khóa để Việt Nam nắm bắt những cơ hội này và tháo gỡ các nút thắt để không ngừng phát triển mạnh mẽ hơn nữa.

Chia sẻ về các báo cáo, Bộ trưởng KH&CN Huỳnh Thành Đạt cho rằng các báo cáo đã chỉ rõ vai trò đóng góp quan trọng của KHCN và đổi mới sáng tạo trong tăng trưởng kinh tế – xã hội ở Việt Nam và con đường để Việt Nam tiến về phía trước, không ngừng hoàn thiện và nâng cao năng lực hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt nhấn mạnh: “Chúng tôi sẽ tiếp tục tăng cường hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia để thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình sáng tạo, truyền bá, ứng dụng tri thức và công nghệ phục vụ các mục tiêu phát triển bền vững đất nước đến năm 2030 và 2045. Bộ KH&CN đánh giá cao hỗ trợ của Chính phủ Australia và WB trong các nỗ lực này và mong muốn có thêm các sáng kiến hợp tác tiếp theo để đưa các khuyến nghị, công cụ hữu ích này vào thực tiễn”.

Theo http://baochinhphu.vn/

Quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước

Quyết định Số 19/2019/QĐ-UBND: Ban hành Quy định tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước tại tỉnh Phú Yên.

Quyết định Số 51/2018/QĐ-UBND: Sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều của Quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 62/2015/QĐ-UBND ngày 22/12/2015 của UBND tỉnh.

Phụ lục các biểu mẫu: (Ban hành kèm theo Quyết định số 51 /2018/QĐ-UBND ngày 31 tháng 11 năm 2018 của UBND tỉnh)

1. Phiếu đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh:

  • Mẫu A1-ĐXNV: Đề tài khoa học và công nghệ hoặc Đề án khoa học
  • Mẫu A2-ĐXNV: Dự án sản xuất thử nghiệm;
  • Mẫu A3-ĐXNV: Dự án khoa học và công nghệ.

2. Phiếu nhận xét và đánh giá đề xuất đặt hàng:

  • Mẫu B1-TVHĐ: Đề tài/Dự án sản xuất thử nghiệm;
  • Mẫu B2-TVHĐ: Đề án khoa học;
  • Mẫu B3-TVHĐ: Dự án khoa học và công nghệ.

3. Mẫu C0-TCTT: Kết quả tra cứu thông tin về các Đề tài, Dự án sản xuất thử nghiệm có liên quan đến đề xuất đặt hàng đã và đang thực hiện.

4. Mẫu C1-BBKP: Kiểm phiếu đánh giá đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh.

5. Mẫu C2-BBHĐ: Biên bản họp của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh;

6. Mẫu C3-KQĐG: Kết quả đánh giá đề xuất đặt hàng của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

7. Mẫu C4-TH: Tổng hợp kiến nghị của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ.