Thúc đẩy phát triển hệ thống doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 2021-2025 – từ việc tăng cường mối liên kết giữa viện trường và doanh nghiệp

Ngày 01 tháng 02 năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2019/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Với sự nỗ lực triển khai của Bộ Khoa học và Công nghệ (Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN), các Bộ ban ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh thành phố, kết quả triển khai Nghị định bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Năm 2019, tổng doanh thu của 235 doanh nghiệp khoa học và công nghệ (DNKHCN) đạt 2,39 % GDP cả nước. Để tiếp tục thúc đẩy phát triển lực lượng DNKHCN cả về số lượng, chất lượng, bài viết đề xuất các định hướng chính trong việc phát triển hệ thống DNKHCN giai đoạn 2021 – 2025 trên cơ sở tăng cường mối liên kết giữa viện, trường, các tổ chức nghiên cứu và phát triển và doanh nghiệp.

1. Tình hình phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ năm 2020

Tháng 11-2020, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thảo đánh giá tình hình phát triển DNKHCN cả nước và đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển DNKHCN giai đoạn 2021 – 2025, phát huy vai trò dẫn dắt của DNKHCN đối với lực lượng doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Theo số liệu được công bố, hiện cả nước có khoảng 538 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ (DNKHCN) trên tổng số 3000 doanh nghiệp[1] đang hoạt động theo mô hình DNKHCN.

Căn cứ báo cáo của 235[2] doanh nghiệp cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2019:

– DNKHCN tạo việc làm cho 31.264 người lao động với thu nhập bình quân tháng 15 triệu đồng/người.

– Tổng doanh thu của  235 doanh nghiệp năm 2019 đạt: 147.170,5 tỷ đồng. Trong đó, có 217 doanh nghiệp có doanh thu từ sản phẩm KH&CN với tổng: 24.123,1 tỷ đồng (chiếm 16,3% tổng doanh thu). Năm 2019, GDP theo giá hiện hành của Việt Nam đạt 6294000 tỷ đồng[3]. Như vậy, tổng doanh thu của 235 DNKHCN đạt 2,39 % GDP cả nước.

– 198 doanh nghiệp có lãi với tổng lợi nhuận trước thuế năm 2019 đạt: 5.268,5 tỷ đồng. Trong đó, tổng lợi nhuận trước thuế của sản phẩm KH&CN đạt: 1.343,9 tỷ đồng/183 doanh nghiệp.

Thứ trưởng Trần Văn Tùng chủ trì Hội thảo phát triển DNKHCN và kết nối doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tháng 11-2020

Tình hình thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ:

Các DNKHCN chú trọng tới việc đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Khoảng 7% doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận từ kết quả KH&CN có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; hơn 90% doanh nghiệp còn lại tự đầu tư nghiên cứu hoặc nhận chuyển giao kết quả KH&CN bằng toàn bộ nguồn vốn của chính doanh nghiệp.

DNKHCN chú trọng tới việc xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các kết quả KH&CN và sản phẩm được tạo ra: có 138 doanh nghiệp được cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và 9 doanh nghiệp đã đăng ký bảo hộ và đang chờ kết quả. Ví dụ: Công ty CP Robot Tosy đăng ký bảo hộ tại 21 nước trên thế giới. Công ty TNHH Thiết bị Y tế Bắc Việt sở hữu hơn 15 bằng độc quyền sáng chế và bằng kiểu dáng công nghiệp; Công ty CP Công nghiệp và thiết bị chiếu sáng Duhal sở hữu 15 bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp;…

Nhiều DNKHCN nghiên cứu và bổ sung kết quả mới vào danh mục sản phẩm KH&CN trên Giấy chứng nhận DNKHCN: năm 2019, Công ty TNHH Dược Hanvet (Hưng Yên) bổ sung thêm 55 sản phẩm vào Giấy chứng nhận DNKHCN; Công ty TNHH MTV Vắc xin Pasteur Đà Lạt bổ sung danh mục sản phẩm hình thành từ kết quả KH&CN thành 17 sản phẩm; Công ty CP Tập đoàn Giống cây trồng Việt Nam (Hà Nội) bổ sung thêm 04 giống cây trồng mới trong năm 2020. Nhiều DNKHCN đạt được các giải thưởng KH&CN, trong đó có giải thưởng sáng tạo VIFOTEC và giải thưởng tại các Hội thi sáng  tạo khoa học kỹ thuật địa phương.

Chủ động ứng phó với dịch bệnh Covid 19: Có nhiều DNKHCN đã kịp thời điều chỉnh chiến lược kinh doanh, tập trung phát triển sản phẩm mới, tìm kiếm đối tác hợp tác mới và tăng cường khả năng tiếp cận thị trường trong nước. Một số doanh nghiệp đã nghiên cứu và triển khai nhiều ứng dụng công nghệ để tăng khả năng tiếp cận khách hàng, thay đổi phương thức kinh doanh từ trực tiếp truyền thống sang kinh doanh online, giao hàng và thanh toán tận nhà, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm trong đó nghiên cứu và sản xuất kinh doanh các mặt hàng thiết yếu có nhu cầu cao, nội địa hóa nguồn cung nguyên vật liệu. Một số doanh nghiệp đã nghiên cứu đầu tư dây chuyền sản xuất các thiết bị y tế, các sản phẩm chế phẩm sinh học phục vụ cho công tác phòng, chống dịch. Công ty CP Sao Thái Dương đã hợp tác với các nhà khoa học để chế tạo thành công hai bộ kit phát hiện virus SARS-CoV-2; Công ty CP Công nghệ mới Nhật Hải nghiên cứu chế tạo thử nghiệm một số hợp chất nano từ thiên nhiên có khả năng ức chế Sars-CoV-2, ngăn bão hòa Cytokine và giảm khả năng đông máu, hỗ trợ điều trị cho các bệnh nhân mắc Covid-19; Công ty TNHH Châu Đà sản xuất sản phẩm Máy sản xuất khẩu trang tự động đáp ứng nhu cầu sản xuất khẩu trang y tế trong mùa dịch bệnh,…

Công ty CP Sao Thái Dương phối hợp với các nhà khoa học của trường đại học Bách khoa Hà Nội nghiên cứu phát triển hai bộ kit xét nghiệm Covid-19 và trao tặng Bộ Y tế để ủng hộ công tác phòng chống dịch

Giao lưu trực tuyến với một số DNKHCN tiêu biểu về kinh nghiệm vượt qua những thách thức do dịch bệnh Covid-19 tháng 8/2020

2. Thuận lợi, khó khăn trong hoạt động của doanh nghiệp khoa học và công nghệ

2.1. Thuận lợi:

– Chứng nhận “Doanh nghiệp khoa học và công nghệ” giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong quá trình thương mại hóa sản phẩm (do sản phẩm được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận, giúp khách hàng yên tâm về chất lượng), thuận lợi hơn trong giao dịch với các cơ quan thuế tại địa phương.

– Được hưởng các hỗ trợ của Nhà nước về đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao giá trị thương hiệu của doanh nghiệp, được giới thiệu quảng bá sản phẩm thông qua các hội thảo, triển lãm, kết nối cung – cầu, chợ công nghệ và thiết bị.

– Nhờ được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất, vay vốn tín dụng đầu tư, thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng vốn nhà nước, doanh nghiệp tập trung được nguồn vốn để tiếp tục đầu tư cho KH&CN, đầu tư cơ sở vật chất, nhân lực, không ngừng tạo ra các sản phẩm mới có chất lượng và sức cạnh tranh. Nhiều DNKHCN chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu.

– Các tỉnh, thành phố ngày càng chú trọng tới việc hỗ trợ doanh nghiệp ở địa phương thực hiện các hoạt động nhằm phát triển KH&CN thông qua ban hành và triển khai các chính sách, chương trình hỗ trợ. Đây là một trong những biện pháp tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển DNKHCN ở các địa phương.

2.2. Khó khăn:

– Một số DNKHCN có sự liên kết với viện, trường trong việc đầu tư tạo ra kết quả KH&CN mới, sản phẩm mới. Tuy nhiên, sự liên kết này chưa phổ biến, chưa phải xu thế chung mà mới chỉ diễn ra ở quy mô nhỏ lẻ; do đó chưa tận dụng được tiềm năng của kho kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ tại các viện, trường hiện nay nhằm hình thành và phát triển DNKHCN.

– Chính sách hỗ trợ của Nhà nước mới dừng lại ở giai đoạn tạo ra kết quả KH&CN mà chưa tập trung hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường cho sản phẩm mới đó; trong khi giai đoạn thương mại hóa tiềm ẩn nhiều rủi ro không kém giai đoạn nghiên cứu và phát triển.

– Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, DNKHCN cũng gặp phải rất nhiều khó khăn như các doanh nghiệp nói chung: thiếu nguyên liệu sản xuất, thị trường tiêu thụ bị hạn chế, thiếu hụt lao động, doanh thu sụt giảm, nguồn tiền chi trả các chi phí vận hành doanh nghiệp hạn hẹp,…

– Cơ sở vật chất cho hoạt động KH&CN của các DNKHCN còn thiếu, do thiếu vốn đầu tư hoặc không thuê được đất để xây dựng mở rộng cơ sở sản xuất, kinh doanh.

– Các sản phẩm KH&CN của một số doanh nghiệp không quá nổi trội về công nghệ hoặc không có thị trường tiêu thụ nên chưa mang lại lợi nhuận cao cho DNKHCN.

– Tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ chưa có giải pháp xử lý triệt để.

– Các sản phẩm của nước ngoài đặc biệt là các nước tiên tiến xâm nhập mạnh mẽ vào thị trường trong nước khiến cho sản phẩm của doanh nghiệp bị cạnh tranh gay gắt.

3. Định hướng giải pháp phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ giai đoạn 2021-2025

1) Tập trung hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật về DNKHCN đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, khả thi:

– Đồng bộ hóa hệ thống cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN và đổi mới sáng tạo, gồm: Luật Khoa học và công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật quản lý sử dụng tài sản công và các văn bản hướng dẫn thi hành để bảo đảm thực thi được các chính sách hỗ trợ phát triển DNKHCN; cơ chế giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước; cơ chế phân chia lợi nhuận thu được từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu…

– Thiết kế hệ thống chính sách ưu đãi theo hướng ưu đãi áp dụng đối với sản phẩm mới thay vì áp dụng theo chủ thể đầu tư như hiện nay, nhằm đảm bảo sự phù hợp với quy định của Luật Đầu tư và thúc đẩy doanh nghiệp liên tục thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển nhằm tạo ra các sản phẩm mới đưa ra thị trường.

– Đề xuất xây dựng chính sách ưu tiên sử dụng các sản phẩm KH&CN của DNKHCN.

2) Thúc đẩy liên kết viện, trường và doanh nghiệp nhằm hỗ trợ hình thành và phát triển DNKHCN:

– Xây dựng và ban hành cơ chế phù hợp tạo sự gắn kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp tiếp nhận kết quả KH&CN mới để hình thành các DNKHCN.

– Thúc đẩy hỗ trợ phát triển mô hình doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) từ các trường đại học, viện nghiên cứu nhằm thúc đẩy việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu được tạo ra từ viện, trường.

Doanh nghiệp spin-off có thể hoạt động theo mô hình DNKHCN (khi trực tiếp ứng dụng kết quả KH&CN) hoặc tổ chức trung gian của thị trường công nghệ (khi chuyển giao kết quả KH&CN cho tổ chức, cá nhân khác nhằm hình thành DNKHCN).

– Thúc đẩy hoạt động của các cơ sở ươm tạo tại trường, viện và thu hút sự đầu tư của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, DNKHCN dẫn dắt các lĩnh vực.

3) Đẩy mạnh hoạt động truyền thông về sản phẩm KH&CN, DNKHCN để nâng cao giá trị thương hiệu, tạo uy tín đối với người tiêu dùng, giúp thương hiệu “doanh nghiệp khoa học và công nghệ” trở thành thương hiệu mạnh, nâng cao lợi thế cạnh tranh cho DNKHCN.

Các hoạt động truyền thông về sản phẩm KH&CN, DNKHCN được đẩy mạnh cả về tần suất thực hiện, hình thức đa dạng, lựa chọn những doanh nghiệp điển hình, tiêu biểu với các sản phẩm chất lượng.

4) Chuyển đổi, cơ cấu lại các chương trình có nội dung hỗ trợ phát triển DNKHCN theo hướng đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ thương mại hóa, phát triển thị trường cho những sản phẩm KH&CN chất lượng nhằm chiếm lĩnh thị trường trong nước và xuất khẩu.

5) Tăng cường hỗ trợ hoạt động của các Hiệp hội doanh nghiệp, đặc biệt là Hiệp hội doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam. Thực hiện hỗ trợ các DNKHCN thông qua Hiệp hội để tạo tác động lan tỏa và thúc đẩy sự liên kết giữa các DNKHCN.



[1] 3000 doanh nghiệp đang hoạt động theo mô hình DNKHCN: 538 doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận; 36 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận hoạt động công nghệ cao; 800 doanh nghiệp sở hữu bằng bảo hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp chưa đăng ký; trên 1400 doanh nghiệp phần mềm và hơn 400 doanh nghiệp hoạt động tại khu CNC.

[2] 235 doanh nghiệp có báo cáo đầy đủ về tình hình sản xuất, kinh doanh năm 2019 (tính đến thời điểm tháng 8/2020). Các doanh nghiệp khác do nhiều nguyên nhân nên báo cáo chậm.

[3] Nguồn: Tổng cục Thống kê.

 

Nguồn: Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN

Quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước

Quyết định Số 19/2019/QĐ-UBND: Ban hành Quy định tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước tại tỉnh Phú Yên.

Quyết định Số 51/2018/QĐ-UBND: Sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều của Quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 62/2015/QĐ-UBND ngày 22/12/2015 của UBND tỉnh.

Phụ lục các biểu mẫu: (Ban hành kèm theo Quyết định số 51 /2018/QĐ-UBND ngày 31 tháng 11 năm 2018 của UBND tỉnh)

1. Phiếu đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh:

2. Phiếu nhận xét và đánh giá đề xuất đặt hàng:

3. Mẫu C0-TCTT: Kết quả tra cứu thông tin về các Đề tài, Dự án sản xuất thử nghiệm có liên quan đến đề xuất đặt hàng đã và đang thực hiện.

4. Mẫu C1-BBKP: Kiểm phiếu đánh giá đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh.

5. Mẫu C2-BBHĐ: Biên bản họp của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh;

6. Mẫu C3-KQĐG: Kết quả đánh giá đề xuất đặt hàng của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

7. Mẫu C4-TH: Tổng hợp kiến nghị của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ.