EURAXESS: đẩy mạnh nghiên cứu, khoa học và đổi mới sáng tạo Việt Nam – EU

Chiều ngày 13/12/2021, tại Hà Nội, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã tổ chức Hội thảo quốc tế “Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo Liên minh châu Âu-Việt Nam 2021” và “Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác về đẩy mạnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia và EURAXESS Worldwide”.

TS. Trần Đắc Hiến, Cục trưởng Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, phát biểu khai mạc Hội thảo

Tham dự hội thảo, đại diện của Việt Nam có TS. Trần Đắc Hiến – Cục trưởng Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia. Về phía EURAXESS Worldwide có Ông Bernhard Mach – Giám đốc Dự án của EURAXESS Toàn cầu.

Hội thảo còn có sự tham dự của Đại sứ Giorgio Aliberti – Trưởng đại diện Phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam; Đại sứ. TS. Lê Thị Tuyết Mai – Đại diện thường trực của Việt Nam tại Văn phòng Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và các Tổ chức Quốc tế khác tại Geneva; Ông Pierrick Fillon-Ashida – Chuyên gia Chính sách cấp cao phụ trách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Tổng cục Nghiên cứu và Đổi mới (DG RTD); Phó Giáo sư Hà Anh Tuấn – Đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Singapo; TS. Jenny Lind ELMACO – Điều phối viên Khu vực, EURAXESS Toàn cầu; PGS.TS. Nguyễn Hồng Quân – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tuần hoàn, Đại học Quốc gia Tp. HCM; TS. Ngô Nhiên – Giám đốc điều hành Mạng lưới Sáng kiến về chuyển dịch năng lượng Việt Nam; Giáo sư Tăng Anh Minh – Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global); PGS. TS Trần Phương Trà, Giám đốc Chương trình MBA tại Trường Kinh doanh IPAG (Pháp), Giám đốc Mạng lưới chính sách kinh tế tại AVSE Global. Ngoài ra, còn có các đơn vị trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, đại diện các trường đại học; viện nghiên cứu, doanh nghiệp trong nước và quốc tế; các nhà khoa học; các cơ quan thông tấn, báo chí.

Quang cảnh Hội thảo tại điểm cầu Cục Thông tin KH&CN Quốc gia

Cục Thông tin KH&CN Quốc gia và EURAXESS Worldwide ký kết thỏa thuận hợp tác về đẩy mạnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo:

Phát biểu tại buổi lễ, TS. Trần Đắc Hiến cho biết: NASATI là cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện các hoạt động về thống kê KH, CN và ĐMST của Việt Nam. Các hoạt động của NASATI trong suốt hơn 60 năm qua đã hỗ trợ tích cực cho các nhà hoạch định chiến lược chính sách cũng như cộng đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của Việt Nam. Chúng tôi đã nỗ lực tạo ra môi trường thuận lợi nhất cho các dịch vụ thông tin KH&CN; nâng cao hợp tác của khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, thông qua các hội chợ, triển lãm KH&CN, tổ chức các hoạt động của sàn giao dịch thông tin công nghệ và thiết bị và nhiều hình thức khác để kết nối các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu và đưa các sản phẩm KH&CN đến với người tiêu dùng.

NASATI đã có quan hệ hợp tác với hơn 100 cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp của gần 40 nước trên thế giới. Trong đó, NASATI là đại diện quốc gia tham gia vào các tổ chức quốc tế đa phương trong hoạt động hợp tác về thông tin KH&CN như ICSTI, IFLA, APAN, ISSN… Chúng tôi tin tưởng rằng, sự hợp tác với EURAXESS Worlwide sẽ giúp cho cộng đồng nghiên cứu khoa học Việt Nam sẽ có thêm nhiều thông tin hữu ích, cũng như các cơ hội để hợp tác, nghiên cứu chung giữa hai khu vực Á – Âu, đóng góp cho sự phát triển chung của khoa học và công nghệ ở hai châu lục.

Việc ký kết hợp tác giữa NASATI và EURAXESS Worldwide và Hội thảo “Hợp tác và Đối tác Nghiên cứu và Đổi mới EU – Việt Nam 2021” nhằm thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên phạm vi toàn cầu trong các lĩnh vực như biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, công nghệ 4.0 và tạo điều kiện cho nhà quản lý, nhà nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của Việt Nam có thể tiếp cận với nguồn thông tin khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của thế giới và các nguồn học bổng về nghiên cứu của Liên minh châu Âu.

Đánh giá cao việc kết hợp tác giữa NASATI và EURAXESS Worldwide, Đại sứ TS. Lê Thị Tuyết Mai cho biết: “Từ góc độ mối quan hệ Việt Nam – EU, đã có ​​sự phát triển tích cực và hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và EU trong những năm qua, được tăng cường bởi các Hiệp định và nhiều chương trình hợp tác về chính trị, thương mại, đầu tư và quốc phòng, an ninh như EU-Việt Nam Hiệp định Đối tác và Hợp tác (PCA), EVFTA, EVIPA … Bên cạnh đó, tháng 12/2020, Việt Nam cùng với các nước ASEAN và EU nâng cấp quan hệ lên quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN-EU. Các Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện như vậy khẳng định lợi ích chung của Việt Nam và EU trong việc thúc đẩy mối quan hệ bền chặt hơn trong khoa học, nghiên cứu và đổi mới. Trong bối cảnh đó, Biên bản ghi nhớ được ký kết giữa NASTI và EURAXESS sẽ tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu, nhà khoa học và nhà đổi mới từ Việt Nam và EU chung tay thúc đẩy các hoạt động và chương trình nghiên cứu và đổi mới khoa học và công nghệ , góp phần đẩy mạnh toàn diện hợp tác và đối tác giữa Việt Nam và EU trên nhiều lĩnh vực, bao gồm ứng phó hiệu quả với các thách thức toàn cầu như đại dịch Covid-19, biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường để phục hồi toàn diện sau đại dịch và phát triển bền vững vì lợi ích của người dân Việt Nam và EU”.

Đại sứ TS. Lê Thị Tuyết Mai, Đại diện thường trực của Việt Nam tại Văn phòng Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và các Tổ chức Quốc tế khác tại Geneva, phát biểu tại Hội thảo

Từ quan điểm của các kênh ngoại giao đa phương, theo Đại sứ Lê Thị Tuyết Mai, “Thứ nhất, đó là các cơ hội hợp tác trong khuôn khổ hợp tác giữa EU và ASEAN. Với quan hệ đối tác chiến lược giữa ASEAN và EU, có các cơ hội hợp tác và tài trợ nghiên cứu trong khuôn khổ EURAXESS ASEAN, liên kết các nhà nghiên cứu từ ASEAN với châu Âu từ năm 2007 thông qua việc cung cấp thông tin và sự kiện miễn phí về tài trợ nghiên cứu, cơ hội nghề nghiệp nghiên cứu; thứ hai, NASTI và EURAXESS có thể tìm hiểu các cơ hội hợp tác giữa Việt Nam và EU trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, nghiên cứu và đổi mới ở các kênh đa phương, có tính đến các chương trình hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế tại Geneva, chẳng hạn như Tổ chức Y tế Thế giới, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới; thứ ba, quan hệ hợp tác giữa NASTI và EURAXESS được đánh giá cao vì nó phù hợp với ngoại giao khoa học, một ưu tiên được Việt Nam và nhiều quốc gia, tổ chức, song phương hoặc khu vực, quốc tế thúc đẩy thông qua các tổ chức khu vực và quốc tế. Như đã phản ánh trong thực tế, ngoại giao khoa học liên quan đến nhiều loại hoạt động khác nhau; thứ tư, như đã thấy trong các chương trình hợp tác của LHQ và các tổ chức quốc tế chuyên ngành, các nhà lãnh đạo thế giới đã đạt được các thỏa thuận nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững trong Chương trình nghị sự 2030 của LHQ về phát triển bền vững. Đối với những mục tiêu này, điều quan trọng là phải sử dụng phương pháp tiếp cận toàn xã hội, thu hút các nhà hoạch định chính sách, các chương trình nghiên cứu của các trường đại học, cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp để thúc đẩy ứng dụng nghiên cứu và đổi mới nhằm phát triển các sản phẩm/công nghệ thương mại hóa đáp ứng nhu cầu của xã hội và kinh tế, trước những thách thức cấp bách mà nước ta đang phải đối mặt như đại dịch Covid-19, biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, phát triển xanh, quản lý tài nguyên nước xuyên biên giới, hợp tác đại dương và ven biển…; thứ năm, kinh nghiệm của Hội đồng Nghiên cứu Châu Âu và thông lệ tốt của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia của các nước Châu Âu riêng rẽ sẽ đáng được NASTI học tập trong việc đưa ra các khuyến nghị với Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia của Việt Nam trong việc cải tiến nghiên cứu và đổi mới để phát triển”.

Đại sứ TS. Lê Thị Tuyết Mai tin tưởng rằng Phái đoàn của Liên minh châu Âu tại Hà Nội và Phái đoàn của Việt Nam tại EU tại Brussels chắc chắn sẽ chung tay thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa NASTI và EURAXESS. Hợp tác nghiên cứu khoa học sẽ tăng cường ngoại giao. Phái đoàn thường trực của Việt Nam tại Geneva sẽ luôn sẵn sàng phục vụ NASATI và các cơ quan khác của Việt Nam trong việc kết nối với các tổ chức quốc tế tại Geneva.

Các đại biểu thảo luận tại Hội thảo

Chia sẻ kinh nghiệm thúc đẩy đổi mới sáng tạo và các thông tin học bổng nghiên cứu từ Châu Âu cho các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách của Việt Nam:

Tại Hội thảo, các đại biểu đã thảo luận về kinh nghiệm hợp tác nghiên cứu và đổi mới giữa EU-Singapo; Khuôn khổ được áp dụng cho Chiến lược Phát triển Đổi mới và Nghiên cứu của Singapo và Hợp tác Singapo-EU.  Chia sẻ tại Hội thảo về chủ đề hợp tác giữa các nước Châu Á và Liên minh Châu Âu về khoa học, công nghệ và đổi mới, PGS. TS Hà Anh Tuấn cho biết, “Cũng như Chính phủ Việt Nam, Chính phủ Singapore coi đổi mới và nghiên cứu là công cụ quan trọng để đất nước duy trì tăng trưởng và chuyển đổi kinh tế, phát triển xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Khác với Việt Nam, Singapore đã đầu tư theo hướng này từ lâu và đã có uy tín quốc tế như một trung tâm CNTT, đổi mới và nghiên cứu của khu vực và thậm chí trên thế giới. Singapore và EU đã ký một số thỏa thuận về hợp tác đổi mới và nghiên cứu và Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm đó. Cụ thể như: chính sách của Singapore dành cho Nhà Đổi mới (khởi nghiệp), Chiến lược cho nhân tài, Chiến lược cho doanh nghiệp với mức đầu tư cho R&D: 1% GDP giai đoạn 2020-2025: 25 tỷ USD”.

PGS. TS Hà Anh Tuấn cũng chia sẻ tại Hội thảo về các khuôn khổ được áp dụng cho Chiến lược Phát triển Đổi mới và Nghiên cứu của Singapo và Hợp tác Singapo-EU, bao gồm các tổ chức chính như: Quỹ Nghiên cứu Quốc gia (NRF) trực thuộc Văn phòng Thủ tướng: Trực thuộc NRF là Hội đồng Nghiên cứu, Đổi mới và Doanh nghiệp (RIEC). RIEC được thành lập năm 2006; do Thủ tướng Chính phủ chủ trì. RIEC đưa ra định hướng chiến lược cho R&D quốc gia; Tổ Tư vấn cho Nội các Singapo về các chính sách và chiến lược nghiên cứu và đổi mới quốc gia nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi Singapo thành một xã hội dựa trên tri thức, với năng lực mạnh mẽ về R&D và việc dẫn dắt động lực quốc gia thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới và doanh nghiệp bằng cách khuyến khích các sáng kiến ​​mới trong việc tạo ra tri thức trong khoa học và công nghệ, và để thúc đẩy các lĩnh vực mới của tăng trưởng kinh tế dài hạn. Các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam cũng có thể tham khảo mô hình Ban Phát triển Kinh tế (EDB) của Singapo. Đây là tổ chức có nhiệm vụ tạo ra tăng trưởng kinh tế bền vững và các cơ hội kinh doanh tại Singapore bằng cách thu hút các công ty đa quốc gia mở các trung tâm R&D ở đó. Hoặc một mô hình khác đáng để các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam tìm hiểu, đó là Cơ quan Nghiên cứu và Công nghệ Khoa học (A * STAR) với sứ mệnh là thúc đẩy nghiên cứu khoa học đẳng cấp thế giới và nuôi dưỡng tài năng khoa học đẳng cấp thế giới để thúc đẩy các mục tiêu kinh tế của Singapo. Nó đóng một vai trò trung tâm trong việc thiết lập các ưu tiên chuyên đề cho nghiên cứu công cộng.

Nói về kinh nghiệm hợp tác Singapo-EU, PGS. TS Hà Anh Tuấn cho biết: từ năm 2019, Singapo-EU đã ký Hiệp định Đối tác và Hợp tác EU-Singapo 2019; Hiệp định thương mại tự do Singapo-EU 2019; Hiệp định bảo hộ đầu tư giữa Singapo và EU năm 2019. Từ năm 2019, EU-Singapo đã thực hiện sáng kiến ​​Thu xếp để các nhà khoa học hàng đầu của Singapo tham gia các nhóm của Hội đồng Nghiên cứu Châu Âu do Hội đồng Nghiên cứu Châu Âu (ERC) tài trợ. Đồng thời, phía Singapo có sự hỗ trợ của Quỹ Nghiên cứu Quốc gia, phía EU: Hội đồng Nghiên cứu Châu Âu. Một số dự án thực tế Singapo-EU như: Singapo kết nối với hệ thống chứng chỉ COVID kỹ thuật số của EU (EUDCC) (2021); Thoả thuận Hành chính EU-Singapo về Hợp tác Cụm (2021). PGS. TS Hà Anh Tuấn cho rằng: “để thực hiện các chương trình đột phá cho đổi mới sáng tạo, Chính phủ Việt Nam cần chuẩn bị cơ sở hạ tầng bao gồm hai yếu tố quan trọng nhất là: một là, khuôn khổ pháp lý; hai là, sự đầu tư vào R&D từ cấp độ chính phủ đến trường đại học và các doanh nghiệp. Cũng như vậy, trong hợp tác với EU và với các đối tác khác nên chú ý 4 điểm: một là, hợp tác trong Nghiên cứu và Đổi mới được đặt trong khuôn khổ rộng hơn (Hiệp định Đối tác và Hợp tác; FTA); hai là, thực tế và dựa trên dự án; ba là, sự kết hợp của cả quan hệ đa phương và song phương; bốn là, Chính phủ cung cấp khuôn khổ, nhưng các dự án đến từ các trường đại học và cơ quan nghiên cứu và các khu vực tư nhân (định hướng kinh doanh)”.

Theo PGS. Trần Phương Trà, Giám đốc Chương trình MBA tại Trường Kinh doanh IPAG (Paris, Pháp), Giám đốc Mạng lưới Chính sách Kinh tế tại AVSE Global, Hiệp hội các nhà khoa học và chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global), Hội thảo đã giúp mở rộng các cơ hội nghiên cứu cho các lĩnh vực, chủ đề quan trọng trong sự phát triển của Việt Nam nói riêng và khu vực ASEAN nói chung. Đối với AVSE Global, Việt Nam và ASEAN cần đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế biển với châu Âu để giải quyết các bài toán chung trong phát triển hệ thống đô thị biển có khả năng thích ứng cao với rủi ro, cảng thông minh, năng lượng gió ngoài khơi kết hợp nuôi trồng thuỷ sản, công nghệ sinh học cho ngành công nghiệp mỹ phẩm…  AVSE Global mong muốn hợp tác với các trường đại học tại Việt Nam, kết nối các nhà khoa học người Việt tại các trường đại học hàng đầu tại châu Âu với các nhà khoa học trong nước, đảm bảo chất lượng của các chương trình nghiên cứu cũng như đẩy mạnh tính thực tiễn của các công trình.

Ông Pierrick Fillon-Ashida, Chuyên gia Chính sách Cấp cao phụ trách Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Tổng cục Nghiên cứu và Đổi mới (DG RTD)

TS. Hà Anh Tuấn, Đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Singapo chia sẻ kinh nghiệm hợp tác KH&CN của Singapo và EU.

TS. Jenny Lind ELMACO, Điều phối viên khu vực, EURAXESS Worldwide cho biết về các chương trình học bổng dành cho Việt Nam nói riêng và các nước Asean nói chung trong Chương trình hợp tác nghiên cứu giữa EU và Việt Nam.

PGS. Trần Phương Trà, Giám đốc Chương trình MBA tại Trường Kinh doanh IPAG (Paris, Pháp), Giám đốc Mạng lưới Chính sách Kinh tế tại AVSE Global, Hiệp hội các nhà khoa học và chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global), chia sẻ về chủ đề kinh tế biển Việt Nam và thực tiễn nhu cầu hợp tác KH&CN với cấp địa phương

ThS. Ngô Thị Tố Nhiên, Giám đốc điều hành Sáng kiến về chuyển dịch năng lượng Việt Nam, chia sẻ kinh nghiệm tìm kiếm các dự án hợp tác với EU và PGS. TS. Nguyễn Hồng Quân, Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế tuần hoàn, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh chia sẻ kinh nghiệm tìm kiếm và xin học bổng về nghiên cứu.

Theo https://vista.gov.vn/

Quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước

Quyết định Số 19/2019/QĐ-UBND: Ban hành Quy định tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước tại tỉnh Phú Yên.

Quyết định Số 51/2018/QĐ-UBND: Sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều của Quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 62/2015/QĐ-UBND ngày 22/12/2015 của UBND tỉnh.

Phụ lục các biểu mẫu: (Ban hành kèm theo Quyết định số 51 /2018/QĐ-UBND ngày 31 tháng 11 năm 2018 của UBND tỉnh)

1. Phiếu đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh:

  • Mẫu A1-ĐXNV: Đề tài khoa học và công nghệ hoặc Đề án khoa học
  • Mẫu A2-ĐXNV: Dự án sản xuất thử nghiệm;
  • Mẫu A3-ĐXNV: Dự án khoa học và công nghệ.

2. Phiếu nhận xét và đánh giá đề xuất đặt hàng:

  • Mẫu B1-TVHĐ: Đề tài/Dự án sản xuất thử nghiệm;
  • Mẫu B2-TVHĐ: Đề án khoa học;
  • Mẫu B3-TVHĐ: Dự án khoa học và công nghệ.

3. Mẫu C0-TCTT: Kết quả tra cứu thông tin về các Đề tài, Dự án sản xuất thử nghiệm có liên quan đến đề xuất đặt hàng đã và đang thực hiện.

4. Mẫu C1-BBKP: Kiểm phiếu đánh giá đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh.

5. Mẫu C2-BBHĐ: Biên bản họp của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh;

6. Mẫu C3-KQĐG: Kết quả đánh giá đề xuất đặt hàng của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

7. Mẫu C4-TH: Tổng hợp kiến nghị của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ.