Hội nghị Tổng kết các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020

Ngày 13/12/2021 tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội nghị Tổng kết các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020. Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt chủ trì Hội nghị.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt phát biểu tại Hội nghị

Hội nghị được tổ chức nhằm mục đích đánh giá và nhìn nhận lại các kết quả khoa học đạt được cũng như công tác tổ chức quản lý thực hiện các chương trình trong thời gian qua; những hạn chế cần khắc phục, đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện chương trình cho giai đoạn tới.

Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Văn Tùng, trong giai đoạn 2016-2020, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thực hiện chủ trì quản lý với 7 chương trình KHCN trọng điểm cấp quốc gia, bao gồm 6 chương trình thuộc lĩnh vực KHCN và một chương trình thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Đến nay, các chương trình đã kết thúc thời gian thực hiện. Theo đó, trên 257 nhiệm vụ KHCN được triển khai bởi hơn 9.700 cán bộ nghiên cứu, các nhà khoa học đầu ngành đến từ 155 đơn vị chủ trì, hàng trăm tổ chức trong và ngoài nước phối hợp nghiên cứu với tổng kinh phí 2.145 tỷ đồng. Đến nay 97% các nhiệm vụ KHCN của các chương trình đã được đánh giá nghiệm thu với 206 nhiệm vụ có kết quả Đạt và 40 nhiệm vụ có kết quả Xuất sắc.

Quang cảnh Hội nghị

Thông qua việc triển khai các nhiệm vụ, có trên 380 giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ được nghiên cứu phát triển, trong đó nhiều kết quả đã đạt được trình độ của các nước tiên tiến trên thế giới như: Công nghệ chế tạo động cơ điện tiết kiệm năng lượng; phương pháp đánh giá rủi ro thiên tai, đặc biệt là lũ lụt đối với cuộc sống con người; quy trình kỹ thuật ghép thùy phổi hoặc một phổi từ người cho sống hoặc người cho chết não; kỹ thuật điều trị hội chứng truyền máu song thai và giải xơ buồng ối bằng laser quang đông; quy trình ứng dụng kỹ thuật giải trình tự gene thế hệ mới trong sàng lọc rối loạn nhiễm sắc thể trước chuyển phôi…

Đối với chương trình khoa học xã hội và nhân văn, các kết quả nghiên cứu đã được chắt lọc thành những báo cáo kiến nghị cho việc xây dựng cơ chế chính sách, hình thành những tri thức để nâng cao nhận thức của xã hội về văn hóa, xã hội và con người và đặc biệt là những đóng góp về luận cứ khoa học trong việc kiến nghị nhằm hoạch định chính sách và hoàn chỉnh cơ chế quản lý. Có nhiều kết quả nghiên cứu đã được chắt lọc, tổng hợp kịp thời và chuyển giao cho Tổ xây dựng văn kiện Đại hội Đảng XIII, góp phần xây dựng và hoàn thiện văn kiện phục vụ Đại hội Đảng.

Báo cáo tại Hội nghị, Phó Giám đốc phụ trách Văn phòng Chương trình trọng điểm cấp Quốc gia Trần Đỗ Đạt cho biết: Các chương trình được triển khai trong bối cảnh Chính phủ tiến hành nhiều đổi mới trong quản lý điều hành với mục tiêu xây dựng chính phủ liêm chính, kiến tạo. Hoạt động KHCN, đặc biệt đổi mới sáng tạo được đặt trong sự quan tâm nhiều hơn của cả xã hội. Yêu cầu về hiệu quả hoạt động KHCN từ phía xã hội ngày càng cao. Đến nay, các nhiệm vụ của 6 chương trình khoa học và công nghệ đã tạo ra 469 loại sản phẩm dạng 1, trong đó có 103 loại thiết bị máy móc, 85 loại vật liệu; 31 dây truyền công nghệ; 69 là các mẫu, mô hình; 136 loại sản phẩm là hàng hóa có thể tiêu thụ và những sản phẩm khác như giống cây trồng, chủng nấm… Các đề tài, dự án trong khuôn khổ các chương trình cũng đã tiến hành thương mại hóa loại sản phẩm. Tổng giá trị các hợp đồng chuyển giao công nghệ và thương mại hóa đạt khoảng 105 tỷ đồng. Ngoài ra, các nhiệm vụ còn xây dựng được 384 giải pháp, quy trình công nghệ, 90 cơ sở dữ liệu/bộ số liệu, 60 phần mềm các loại. Nhiều giải pháp, quy trình công nghệ sau khi được hoàn thiện đã được ứng dụng ngay vào thực tiễn đồng thời được nhân rộng phổ biến. Nhiều phần mềm sau khi được thử nghiệm đã được sử dụng và ứng dụng triển khai ngay sau khi kết thúc đề tài tại các cơ quan của bộ, ngành trung ương và địa phương…

Hoạt động của các chương trình trọng điểm tiếp tục nằm trong xu thế đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KHCN đã được Bộ thực hiện từ nhiều năm trước. Nội hàm của cơ chế “đặt hàng” các nhiệm vụ KHCN được làm sâu sắc hơn và tinh thần “phục vụ” cộng đồng khoa học trong công tác quản lý được Bộ chỉ đạo thường xuyên và quyết liệt hơn. Việc triển khai các chương trình trong giai đoạn vừa qua, bên cạnh những thuận lợi còn có những khó khăn nhất định. Trong đó, hệ thống các văn bản quản lý đã được ban hành tương đối đầy đủ từ khâu xác định nhiệm vụ đến khâu nghiệm thu thanh lý… Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập, một số quy định chưa đồng bộ, chưa bao phủ được những phát sinh từ thực tiễn; chưa đẩy mạnh được cơ chế đặt hàng từ các Bộ, Ban, ngành…

Tại Hội nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận về nghiên cứu khoa học ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến phục vụ cho bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng; vai trò của Nhà nước trong khởi tạo và thúc đẩy phát triển thị trường KHCN; vấn đề sử dụng, nghiên cứu và quản lý trong lĩnh vực vật liệu; vài trò thúc đẩy ứng dụng năng lượng nguyên tử, công nghệ năng lượng; một số định hướng nghiên cứu, ứng dụng KHCN trong hệ thống điện tử Việt Nam; định hướng và giải pháp phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp giai đoạn 2021-2030…

Cũng tại Hội nghị, thay mặt Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt trao tặng bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu khoa học.

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt cho rằng: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng với mô hình tăng trưởng theo chiều sâu của nền kinh tế, KHCN ngày càng thể hiện vai trò không thể thiếu trong phát triển kinh tế – xã hội. Trong quá trình tái cơ cấu các chương trình KHCN trọng điểm cấp quốc gia, Bộ KH&CN đang tích cực phối hợp với các bộ, ngành khác hoàn thiện thể chế, thông tư hướng dẫn để cải cách mạnh mẽ và tạo điều kiện thuận lợi cho các các nhà khoa học, các tổ chức KHCN, các doanh nghiệp tham gia và triển khai các nhiệm vụ KHCN cấp quốc gia. Bộ trưởng Huỳnh Thành Đạt cũng cho rằng, các trọng tâm của cải cách sẽ hướng tới bảo đảm sự kết nối, liên thông, không trùng lặp, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Song song với việc xây dựng hoàn thiện khung các chương trình KHCN trọng điểm cấp quốc gia trong giai đoạn mới, cũng cần tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý từ các khâu xác định nhiệm vụ, tuyển chọn và có đánh giá nghiệm thu… để hoạt động của các chương trình ngày hiệu quả hơn.

theo https://vista.gov.vn/

Quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước

Quyết định Số 19/2019/QĐ-UBND: Ban hành Quy định tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước tại tỉnh Phú Yên.

Quyết định Số 51/2018/QĐ-UBND: Sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều của Quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 62/2015/QĐ-UBND ngày 22/12/2015 của UBND tỉnh.

Phụ lục các biểu mẫu: (Ban hành kèm theo Quyết định số 51 /2018/QĐ-UBND ngày 31 tháng 11 năm 2018 của UBND tỉnh)

1. Phiếu đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh:

  • Mẫu A1-ĐXNV: Đề tài khoa học và công nghệ hoặc Đề án khoa học
  • Mẫu A2-ĐXNV: Dự án sản xuất thử nghiệm;
  • Mẫu A3-ĐXNV: Dự án khoa học và công nghệ.

2. Phiếu nhận xét và đánh giá đề xuất đặt hàng:

  • Mẫu B1-TVHĐ: Đề tài/Dự án sản xuất thử nghiệm;
  • Mẫu B2-TVHĐ: Đề án khoa học;
  • Mẫu B3-TVHĐ: Dự án khoa học và công nghệ.

3. Mẫu C0-TCTT: Kết quả tra cứu thông tin về các Đề tài, Dự án sản xuất thử nghiệm có liên quan đến đề xuất đặt hàng đã và đang thực hiện.

4. Mẫu C1-BBKP: Kiểm phiếu đánh giá đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh.

5. Mẫu C2-BBHĐ: Biên bản họp của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh;

6. Mẫu C3-KQĐG: Kết quả đánh giá đề xuất đặt hàng của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

7. Mẫu C4-TH: Tổng hợp kiến nghị của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ.